Đặt hai mặt bằng cạnh nhau: cùng phương án, cùng tỷ lệ, cùng thông tin. Một bản bạn nhìn là thấy ngay đâu là tường, đâu là cửa, đâu là đồ đạc. Bản kia bạn phải dí mắt vào mới phân biệt được. Khác biệt duy nhất là độ dày nét.
Nhiều sinh viên chỉnh độ dày nét lần đầu vào đêm trước khi in, hoặc để mặc định phần mềm với mọi đường cùng một nét. Trong khi đó, phân cấp nét là thứ quyết định bản vẽ có “nói” được hay không.
Nguyên tắc gốc: cái gì bị cắt thì đậm nhất
Mặt bằng thực chất là một mặt cắt ngang, tưởng tượng cắt công trình ở độ cao khoảng 1,0 – 1,5 m so với sàn rồi nhìn xuống. Từ đó có ba nhóm đối tượng:
- Bị cắt: tường, cột, vách tại mặt phẳng cắt. Nét đậm nhất.
- Nhìn thấy bên dưới mặt cắt: bậu cửa sổ, bậc thang, sàn đổi cao độ, đồ đạc cố định. Nét trung bình đến mảnh.
- Bị che hoặc nằm trên mặt cắt: dầm, mái đua, lỗ mở sàn tầng trên. Nét đứt mảnh.
Mặt cắt đứng theo cùng logic: sàn, tường, mái bị cắt đậm nhất; những gì nhìn thấy phía sau mảnh dần theo khoảng cách.
Bảng độ dày nét tham khảo
Dãy độ dày nét phổ biến theo chuẩn quốc tế tăng theo hệ số khoảng 1,4 (căn 2): 0,13 – 0,18 – 0,25 – 0,35 – 0,5 – 0,7 – 1,0 mm. Hệ số này không ngẫu nhiên: khi phóng to một bản vẽ khổ A sang khổ lớn hơn một cỡ, nét cũng chuyển lên đúng một bậc.
| Đối tượng | Tỷ lệ 1:100 | Tỷ lệ 1:50 |
|---|---|---|
| Tường, cột bị cắt (đường bao) | 0,5 mm | 0,7 mm |
| Cửa, vách mỏng bị cắt | 0,35 mm | 0,5 mm |
| Cạnh nhìn thấy gần (bậc, bậu, mép sàn) | 0,25 mm | 0,35 mm |
| Đồ đạc, thiết bị | 0,18 mm | 0,25 mm |
| Vật liệu bề mặt, ô gạch, kích thước | 0,13 mm | 0,18 mm |
| Nét khuất, dầm phía trên | 0,18 mm nét đứt | 0,25 mm nét đứt |
Con số cụ thể có thể điều chỉnh theo văn phòng và khổ in. Điều quan trọng là có ít nhất ba đến bốn cấp phân biệt rõ, và chúng được áp dụng nhất quán trên mọi bản vẽ.
Tô đặc hay để rỗng phần bị cắt
- Tỷ lệ 1:200 trở xuống: tô đặc tường bị cắt thường giúp đọc nhanh hơn, vì tường chỉ còn mảnh.
- Tỷ lệ 1:100: có thể tô đặc hoặc tô xám đậm, tuỳ mục đích bản vẽ.
- Tỷ lệ 1:50 và lớn hơn: thường thể hiện ký hiệu vật liệu (gạch, bê tông) bên trong phần cắt, vì đây là bản vẽ kỹ thuật cần cấu tạo.
Với bảng trình bày đồ án, tô đen hoặc xám đậm phần cắt là cách nhanh nhất để mặt bằng nổi lên khỏi nền giấy.
Mặt cắt: nơi phân cấp nét quan trọng nhất
Mặt cắt có nhiều lớp chiều sâu hơn mặt bằng. Một mặt cắt qua nhà ba tầng có thể thấy: tường và sàn bị cắt, cửa sổ ở tường đối diện, cầu thang phía sau, cây ngoài sân, nhà bên cạnh. Nếu tất cả cùng một nét, người xem không biết đâu là trước, đâu là sau.
Quy tắc thực hành: càng xa mặt phẳng cắt, nét càng mảnh và càng nhạt. Nhiều người còn dùng màu xám nhạt dần cho các lớp phía sau, tạo chiều sâu gần như phối cảnh.
Đường mặt đất trong mặt cắt thường là nét đậm nhất cả bản vẽ, đôi khi tô một dải đất dày bên dưới, để công trình “đứng” trên nền rõ ràng.
Nét vẽ tay và nét vẽ máy
Khi vẽ tay bằng bút kim, bạn tự nhiên chọn bút cho từng loại đường. Khi vẽ máy, phần mềm cho phép gán độ dày theo lớp (layer) hoặc theo màu. Cách làm bền vững:
- Lập hệ lớp theo đối tượng: tường cắt, cửa, cầu thang, đồ đạc, kích thước, trục.
- Gán độ dày nét cho từng lớp một lần, lưu thành mẫu dùng cho mọi đồ án.
- Không chỉnh nét từng đối tượng riêng lẻ, vì sẽ mất kiểm soát khi sửa.
Lỗi in ấn hay gặp
- Nét đẹp trên màn hình, mất khi in: nét 0,13 mm in ở máy in phun khổ lớn chất lượng thấp có thể đứt đoạn. In thử một góc trước.
- In sai tỷ lệ: bản vẽ 1:100 in “vừa trang” thành 1:87, nét và chữ lệch, thước đo sai. Luôn in đúng tỷ lệ và ghi thước tỷ lệ bằng hình.
- Nét màu in đen trắng: các màu phân biệt trên màn hình thành cùng một độ xám. Kiểm bằng chế độ xem xám.
- Chữ và kích thước quá đậm: tranh chỗ với tường, bản vẽ rối.
Áp dụng: bài kiểm tra nheo mắt
- In mặt bằng và một mặt cắt đồ án đúng tỷ lệ.
- Dán lên tường, lùi xa 3 m, nheo mắt lại.
- Câu hỏi: có thấy rõ bố cục tường không? Có thấy cầu thang, lối vào không? Có thứ gì đậm hơn tường không (nếu có, đó là lỗi)?
- Lấy bút dạ đánh dấu mọi đối tượng “đậm sai cấp”.
- Sửa trong bảng lớp, không sửa từng nét. In lại, so sánh.
Chữ, kích thước và trục: lớp thông tin cuối cùng
Sau khi phân cấp nét cho hình, còn lớp thông tin chữ số. Lớp này phải đọc được nhưng không tranh chỗ với tường:
- Chữ ghi chú khi in ra cao khoảng 2,5 – 3 mm, tên phòng có thể 3,5 mm; dùng một phông chữ, không nghiêng, không đậm tuỳ tiện.
- Đường kích thước dùng nét mảnh nhất, đặt ngoài hình khi có thể.
- Ba chuỗi kích thước phổ biến từ ngoài vào: kích thước tổng, kích thước giữa các trục, kích thước chi tiết (ô cửa, mảng tường).
- Trục đánh số một phương, đánh chữ phương kia, vòng tròn ký hiệu trục đặt thẳng hàng ngoài bản vẽ, nét trục chấm gạch mảnh.
Trên bảng trình bày có thể lược bớt kích thước chi tiết, nhưng nên giữ kích thước tổng và trục để người chấm kiểm tỷ lệ.
Bài kiểm tra này mất mười phút mà thường nâng chất lượng bảng trình bày rõ rệt. Bước tiếp theo: tạo một file mẫu với hệ lớp và độ dày nét chuẩn, dùng lại cho mọi đồ án sau. Bạn sẽ không bao giờ phải chỉnh nét vào đêm trước khi nộp nữa.
Câu hỏi thường gặp
Trong mặt bằng, nét nào đậm nhất?
Nét của các đối tượng bị cắt tại mặt phẳng cắt như tường, cột, vách là đậm nhất. Các cạnh nhìn thấy phía dưới mảnh hơn, còn đồ đạc, vật liệu bề mặt và kích thước mảnh nhất.
Mặt bằng được cắt ở độ cao nào?
Thường tưởng tượng mặt phẳng cắt ở khoảng 1,0 – 1,5 m so với sàn, đủ để cắt qua cửa sổ và cửa đi. Những gì nằm trên mặt cắt như dầm, mái đua được thể hiện bằng nét đứt.
Độ dày nét bản vẽ kiến trúc thường dùng là bao nhiêu?
Dãy phổ biến là 0,13 – 0,18 – 0,25 – 0,35 – 0,5 – 0,7 mm, tăng theo hệ số khoảng 1,4. Ở tỷ lệ 1:100, tường bị cắt thường khoảng 0,5 mm, đồ đạc khoảng 0,18 mm.
Có nên tô đen tường trong mặt bằng không?
Ở tỷ lệ nhỏ như 1:200 hay trên bảng trình bày, tô đen hoặc xám đậm tường giúp đọc bố cục nhanh. Ở tỷ lệ lớn như 1:50, nên thể hiện ký hiệu vật liệu bên trong phần cắt.
Vì sao bản vẽ in ra bị mất nét?
Nét quá mảnh như 0,13 mm có thể đứt khi in ở máy in chất lượng thấp, hoặc bản vẽ bị in thu nhỏ để vừa trang. Nên in thử một phần và luôn in đúng tỷ lệ.